Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Luyện tiên đan

Đây là 1 bài luyện đan chụp vội đc trong bí thuật của phái mình  các bạn cần chuẩn bị các loại thảo mộc với lượng như trong hình rồi bỏ vào cối giã nhuyễn sau đó cho vào lò luyện đan đến khi nào thuốc bên trong dẻo quyện vào nhau có thể vo thành đan được thì xem như có thể sử dụng rồi đó... ngồi canh lửa cẩn thận vì quá trình để thành đan sẽ rât lâu...
Nói là luyện đan vậy cho hoa mỹ chứ thực ra tiên đan cũng chỉ là thuôc bổ.... có công dụng tốt với sức khỏe... kéo dài tuổi thọ và làm chậm quá trình lão hóa...
Chúc các bạn thành công!!!



Không có văn bản thay thế tự động nào.

Trận pháp

Trận pháp là hình thức dẫn động, điều khiển, phân bố, chuyển đổi các dạng năng lượng trong vùng trận pháp (thường được gọi là Pháp Giới hay Kết Giới). Trong phạm vi trận pháp bao phủ, chủ trận có thể làm thay đổi kết cấu của năng lượng trong phạm vi đó.
Pháp trận có thể nói là một bước tiến của tu chân giả trong việc nắm giữ và vận dụng thiên địa pháp tắc thông qua phú trận, phù văn, trận văn.

Kết quả hình ảnh cho trận pháp

* Phân Loại:
- Phân loại theo trận nhãn (mắt trận) : thường được phân loại theo các cách gọi: Nhất Thể, Lưỡng Nghi, Tam Tài, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Lục Đạo, Thất Tinh, Bát Quái, Cửu Dương, Thập Hợp ,..... (một số bạn có thể có cách gọi khác hay hơn thì tùy, các bạn có thể chỉnh sửa bên dưới )
- Phân Loại theo công dụng :
+ Công Trận (Còn gọi là Sát Trận : Trận pháp tấn công).
+ Hộ Trận (Trận pháp bảo vệ).
+ Khốn Trận (Trận pháp giam giữ, vây khốn).
+ Huyễn Trận (Còn gọi Ảo Trận – Trận pháp tạo ảo giác).
+ Phong Ấn Trận (Trận pháp dùng để phong ấn).
+ Cấm Trận (Trận Pháp tạo cấm chế).
+ Truyền Tống Trận (Trận pháp dùng để dịch chuyển).
+ Triệu Hồi Trận ( Trận pháp dùng để triệu hồi (thường là linh thú)).
Theo mình hiểu là: bất kì một trận pháp nào cũng cần năng lượng để duy trì, vì trận pháp chỉ có tác dụng giúp ta thay đổi cấu trúc năng lượng chứ không tạo ra năng lượng, chính vì thế, ta thấy, khi bố trận, người ta thường dùng linh thạch làm nguồn cung cấp năng lượng cho trận pháp.( Linh thạch là do linh khí trong một điều kiện nhất định súc áp tạo thành các mỏ linh thạch. Người ta khai thác rồi sử dụng).
Ngoài ra, đôi khi chúng ta còn thấy thay vì dùng linh thạch, đôi khi anh "main" của chúng ta cũng dùng pháp khí, pháp bảo, đan dược, phù chú để thay thế khi bố trận. Nguyên nhân chính là vì các vật này đều là vật chứa năng lượng . Một số trận pháp cao cấp còn có thể căn cứ vào biến đổi của thiên địa vạn vật, dùng chính linh khí làm năng lượng cho chúng
(Nhưng cần phải có nguồn cung cấp ban đầu cho trận pháp hoạt động, rồi sau đó trận pháp mới chuyển hóa linh khí làm năng lượng sử dụng được)
----> Có thể nói trận pháp loại này còn hoạt động khi và chỉ khi nguồn linh khí xung quanh nó còn đủ để cung cấp cho nó.
(Xin giải thích về năng lượng chứa trong các vật dùng để bố trận này :
* Pháp khí, Pháp bảo : Hai thứ này có thể nói thực chất là một, nhưng khác nhau ở mức độ năng lượng. Chúng tạo ra là do người tu hành dùng các vật liệu chứa năng lượng dung hợp vào nhau, do điều kiện nhất định nào đó khiến cho các sản phẩm tạo ra có được nguồn năng lượng. Khi sử dụng người ta thường truyền năng lượng vào bên trong, giống như là lấy năng lượng của mình đổi lấy năng lượng bên trong. Vì khi các vật liệu này dung hợp sẽ tạo ra một nguồn năng lượng rất lớn nên việc truyền năng lượng vào thực chất chỉ dùng để kích thích phần năng lượng chứa bên trong pháp bảo mà thôi. Còn khi pháp khí hay pháp bảo vỡ ra (còn gọi là bị hủy đó), chính là lúc nguồn năng lượng bên trong giải phóng. Chẳng hạn, ta coi pháp khí là một cái bình chứa năng lượng, khi nó vỡ ra giống cái bình bị vỡ ra --> Năng lượng bên trong thoát ra ngoài ---> Pháp khí trở thành vật bình thường.
* Đan dược : Cũng tương tự như thế, các loại nguyên liệu luyện chế đan dược cũng có hàm chứa rất nhiều năng lượng, nên khi chúng kết hợp với nhau sẽ tạo thành một bình chứa năng lượng rất lớn. Người tu hành ăn vào, từ từ dùng linh lực hấp thu nguồn năng lượng chứa trong nó để tăng trưởng tu vi. Nhưng vì nguồn năng lượng bên trong các nguyên liệu là khác nhau và có thể nói là bất đồng nên luyện dược sư khi luyện dược luôn cần chú ý giữ cho nguồn năng lượng bên trong luôn ở trạng thái cân bằng. Đôi khi đan dược tự bạo cũng là một cách để nhân vật chính chạy trốn.
* Phù chú : Phù chú có thể coi như là một phong ấn trận. Nguyên nhân : Phù chú thường dùng để giam giữ một nguồn năng lượng bên trong một tờ giấy (Gọi là tờ giấy nhưng đôi khi nó được làm bằng da linh thú để có thể lưu giữ năng lượng lâu hơn và nhiều hơn ) dưới dạng nào đó . VD: Băng phù : Giữ năng lượng ở dạng các thù hình của băng như băng kiếm, băng trụ, băng vũ..... , hoặc Hỏa phù : Giữ năng lượng ở dạng lửa : Hỏa cầu, hỏa tiễn ......
Khi sử dụng cần dùng năng lượng đốt phù : Vì khi đó năng lượng chúng ta sử dụng làm bào mòn lớp trận pháp phong ấn năng lượng ----> Năng lượng được giải phóng.
Khi tôi nói đến đây chắc nhiều người sẽ nghĩ rằng nếu trận pháp phong ấn dễ dàng bị phá vỡ như thế thì nguồn năng lượng bên trong sẽ dễ dàng phá hủy rùi chui ra ngoài. Nhưng theo tôi thì do khi vẽ phù còn cần căn cứ vào thiên địa pháp tắc bên ngoài, điều đó giúp cho màng phong ấn giữ vững ở trạng thái cân bằng. Đốt phù khiến cho thiên địa pháp tắc và năng lượng tạo ra khi đốt phá vỡ thế cân bằng ---> Màng phong ấn bị hủy).
* Các nguyên lí của trận pháp :
- Trận Pháp được con người tạo thành do con người nắm vững được nguyên lí vận chuyển năng lượng trong thiên địa cũng như quy tắc hoạt động của chúng (Thiên Địa Pháp Tắc).
- Uy lực của pháp trận căn cứ vào nguồn năng lượng mà pháp trận tạo ra và có thể bị ảnh hưởng theo tu vi người chủ trận, các vật liệu chế tạo nên trận (người chủ trận tu vi càng cao thì khả năng nắm vững pháp tắc cũng như khả năng điều khiển năng lượng trong trận pháp càng lớn).
- Các loại trận pháp cao cấp đều được xây dựng từ các loại trận pháp cơ bản ( Đa số các loại thượng cổ kì trận hầu hết là sự kết hợp giữa các trận pháp cơ bản với nhau, dẫu biết rằng các loại trận pháp khác nhau khi kết hợp dễ tạo thành sự xung đột về năng lượng. Chính vì thế khi bày trận cần mắt trận và một một số trận cơ để việc điều khiển dễ dàng hơn, tránh việc xung đột năng lượng).
- Độ phức tạp của trận pháp cũng là một trong những biểu hiện đánh giá uy lực pháp trận đó

Ngũ độc giáo và tộc người Miêu Vân Nam

Sự ra đời của Ngũ Độc giáo
Để bảo vệ dân tộc mình, tộc trưởng người Miêu đã sáng lập ra một giáo đồ chuyên dùng độc với tên gọi: Ngũ tiên giáo độc thiên giáo (ý nghĩa: độc do trời ban), viết tắt là Ngũ Độc. 
Do địa hình của vùng Vân Nam là núi non hiểm trở, rừng cổ âm u, là nơi trú ngụ của vô số mãnh thú và độc trùng cùng hàng loạt kì môn dị thảo, chính vì vậy, người Miêu đã tận dụng lợi thế này để bảo vệ cho chính bản thân mình.
Khi bị đàn áp quá mức, phái Ngũ Độc sẽ lẻn vào nhà của kẻ thù, thả vô số trùng độc cho cắn đến chết mới thôi, vì sự tàn ác của họ nên người Trung Nguyên mới có phần e ngại bởi sự xuất hiện của giáo phái này.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang ngồi và trong nhà

1 số cách dùng độc người Vân Nam Trung Quốc mang lại
Tự thân mang độc, bắt các côn trùng ,sâu bọ, rắn ,rít ,cóc độc cho chúng vào một cái nồi, sau đó để chúng giết hại lẫn nhau và con nào còn sống lấy con đó ra luyện độc cho nó cắn vào người sau đó uống một loại thuốc riêng của họ và độc chỉ lan tỏa khắp người ngoài da , như vậy khi muốn hại ai họ chỉ cần chạm nhẹ trên mặt ly nước uống của người đó , uống ly nước ấy sẽ bị độc mà chết .
Hương thơm độc , loại độc được lấy từ 9 loại cỏ có độc đem tinh luyện thành phấn khi thoa trên mặt , những ai hít phải hương thơm ấy liền bất tỉnh nhân sự hôn mê miệt mài , môi thâm tím tái mắt thâm xanh nhạt , nếu không được điều trị sẽ chết.
Sử dụng mười hai loại tằm chôn tại các ngã tư, sau 7 ngày, lấy mười hai con tằm làm độc ,ngộ độc tằm vàng gây ra đau thắt bụng chảy máu đến chết.
Đem tro con tằm này rải trên đường đi ai đi chân đất đi lên bị ăn mòn mà chết .
công thức khác là lấy con rắn, rết, ve sầu, kiến, giun đất, cá mù lan, tóc hòa thành bột trong một chiếc hộp , khi có gió lớn mở chiếc hộp ra gió mang những hạt bụi đó đi đến đâu người nào hít phải sẽ bị ép tim mà chết

Bát Quái Chưởng

Bát Quái Chưởng còn gọi là Du thân bát quái chưởng, Bát quái liên hoàn chưởng, là loại quyền thuật chuyên về biến đổi chưởng pháp và di chuyển bộ pháp.
Do vận động có thể biến đổi ngang dọc, phân thành tám phương vị, tứ chính tứ ngung – tương tự với quái tự của bát quái đồ “Chu dịch” do đó gọi là Bát quái chưởng. Một số môn Bát Quái Chưởng có lão quyền phổ thường lấy quái lí để giải thích quyền lí, lấy tám quái vị đại biểu cơ bản tám chưởng.
Bát Quái Chưởng có 5 lưu phái có ảnh hưởng là: Duẫn phái, Lương phái, Trình phái, Trương phái. Bát Quái Chưởng là loại quyền được lưu truyền rộng rãi ở Trung quốc, là một trong ba môn Nội gia quyền, thể hiện lý âm dương chưởng, Đạo gia dưỡng sinh, kiện thân, phòng thân.
Nó lấy “bát đại trang pháp” là “chuyển chưởng công”, tập trung “Bát đại xuyến thủ” thành một thể, phối hợp với “Bát đại bộ”, bãi, khấu, thuận bộ pháp làm cơ sở, lấy nhiễu quyển tẩu chuyển làm cơ bản lộ tuyến vận động, lấy chưởng pháp làm trung tâm, trong chạy chuyển toàn thân nhất chí, bộ tựa hành vân lưu thủy, thân pháp yêu cầu: ninh chuyển, toàn phiên phối hợp hoàn chỉnh, tẩu như du long, phiên chuyển tự ưng.
Thủ pháp chủ yếu gồm: xuyên, sáp, phách, liêu, hoành, chàng, khấu, phiên, thác đẳng. Bát Quái Chưởng là môn quyền thuật bao hàm dưỡng sinh và kĩ kích (chiến đấu) thành một, hàm dưỡng đạo đức, do Đổng Hải Xuyên tiên sư đem võ công với nội công dung thành nhất thể, thu lượm sở trường của các phái, làm cho kình nghiệm thêm phong phú, sáng tạo thành phương pháp kỹ thuật độc đáo lấy chưởng chủ.
Bát Quái Chưởng lấy việc chạy theo hình xuyến và “tranh nê bộ, tiễn tử thối, ổn như tọa kiệu”, chuyển đổi khấu bài với tị chính đả tà … làm hình thức vận động, nó khác với các loại quyền thuật khác. Đồng thời với phương diện trị bệnh, nội công, kĩ kích và hàm dưỡng đạo đức, có hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt với phương diện nội công và tu dưỡng đạo đức, biểu hiện càng xuất sắc.
Trong luyện tập chạy chuyển luyện được khí quán tứ sảo, đạt tứ chi bách hài, thông 2 mạch nhâm đốc, toàn thân thư thái, phiêu diêu – là một loại nội công động cao cấp.
Khởi nguyên của Bát quái chưởng
Căn cứ khảo chứng, Đồng Hải Xuyên đời Thanh, người tỉnh Hà Bắc, huyện Văn An ( ước 1797~1882) trong khi ngao du Giang Nam thì đạt được hướng dẫn phương pháp tu luyện của Đạo, kết hợp vũ thuật gia chỉnh lí mà thành.
Sau đó Đổng Hải Xuyên làm quyền sư tại vương phủ triều Thanh, từ đó Bát Quái Chưởng bắt đầu lưu truyền tại Bắc kinh, gần 100 năm sau lan rộng ra toàn quốc và truyền bá ra nước ngoài.

Hình ảnh có liên quan


Đặc điểm của Bát quái chưởng
Là thân tiệp bộ linh ﹐ tùy tẩu tùy biến ﹐ khi cùng đối phương giao thủ thì thân thể khởi phục ninh chuyển mẫn tiệp đa biến. Ngạn ngữ quyền nói rằng “Hình như du long ﹐ nhìn như viên (vượn) thủ ﹐ tọa như hổ ngồi, chuyển tự ưng lượn” .
Cơ bản công lấy thung bộ, hành bộ làm cơ sở. Thân hình yêu cầu đầu đỉnh, cổ thẳng, thẳng eo, xuôi mông, tùng vai, buông chỏ, thực bụng, thông ngực, hấp hông, nâng háng. Bộ pháp yêu cầu khởi lạc bình ổn, bãi khấu rõ ràng, hư thật phân minh, hành bộ như thang nê (lội bùn) ﹐ tiền hành như tọa kiệu ﹐ xuất cước yếu ma hĩnh ( lưỡng cước hõa quan tiết tương thiếp nhi quá ). Tẩu quyển thì nội cước trực tiến, ngoại cước nội khấu ﹐ lưỡng tất (gối) tương bão, không được mở háng, thân pháp chú trọng ninh ﹑ toàn
Bát quái chưởng chuyển, lật viên hoạt không trì trệ. Thủ hình có 2 loại “long trảo chưởng”, “ngưu thiệt chưởng lưỡng”. Thủ pháp chủ yếu có 16 pháp: thôi, thác, đái, lĩnh, bàn, lan, tiệt, khấu, tróc, nã, câu, đả, phong, bế, thiểm, triển. Yêu cầu năng tiến năng thối, năng hóa năng sinh, hư thật kết hợp, biến hóa vô cùng.
Mỗi chưởng phát xuất đều cần lấy eo làm trục, chu thân nhất thể, nội ngoại tương hợp, ngoại trọng thủ nhãn thân pháp bộ, nội tu tâm thần ý khí lực.
Động tác của Bát quái chưởng yêu cầu “thuận cảnh đề đính”, “tùng kiên thùy trửu”, “sướng hung thật phúc”, “lập yêu lưu đồn’, “súc khố hợp tất”, “thập chỉ trảo địa”. Bát quái chưởng dĩ “Cổn toản tranh khỏa, kì chính tương sinh, tẩu chuyển ninh phiên, thân tùy bộ tẩu, chưởng tùy thân biến, hành tẩu như long, hồi chuyển nhược hầu, hoán thế tự ưng, uy mãnh như hổ” ; dĩ khúc sát trực, dĩ động nhiễu tĩnh, dĩ tĩnh sát động vi tu luyện nguyên tắc.
Bát quái chưởng phân thành 3 bộ công phu: “Định giá tử”, “Hoạt giá tử” và”Biến giá tử”. “Định giá tử” là công phu cơ sở, yêu cầu mỗi chiêu mỗi thức đều cần qui củ, nên chậm, không nên nhanh, lấy cầu tư thế chính xác, thung bộ vững chắc, hành bộ bình ổn đạt tới thiết thực. “Nhập môn cửu yếu” , tức: tháp ( tháp yêu ), khấu ( hàm hung ), đề ( vĩ lư thượng đề, cốc đạo nội đề ), đỉnh ( đầu thượng đỉnh, thiệt thượng đính, thủ tiền đính ), khỏa ( khỏa tí ), tùng ( tùng kiên, trầm khí ), thùy ( thùy trửu ), súc ( khố căn, kiên oa nội súc )﹑ khởi.
Bát quái chưởng toản lạc phiên ( tí nội ngoại toàn ) và các yếu lĩnh khác, cần tránh “đỉnh hung, đề phúc, nỗ khí, chuyết lực“ ( gọi là 3 đại bệnh )﹐ “Hoạt giá tử” chủ yếu luyện tập động tác phối hợp, trong di chuyển biên hóa vận dụng thành thạo. “Biến giá tử” yêu cầu nội ngoại thống nhất, ý lĩnh thân tùy, biến hoán tự như, tùy ý xuyên sáp, không bị thứ tự quyền sáo hạn chế, đạt tới nhẹ như lông hồng, biến như chớp điện, vững như bàn thạch.
Yêu cầu công lý:
1. Tam hình tam thế: tam hình tức”Hành tẩu như long, động chuyển như hầu, hoán thế tự ưng” . Tam thế tức “Bộ như thang nê, tí như ninh thằng, chuyển như ma ma.
2. Tam không tam hợp: tam không tức: “Thủ tâm hàm không, cước tâm hàm không, hung tâm hàm không” . Tam hợp tức: “Ý dữ khí hợp, khí thượng lực hợp, lực dữ ý hợp” .
3. Tam viên tam đính: tam viên tức”Tích bối yếu viên, lưỡng bàng bão viên, hổ khẩu trương viên.” Tam đính tức”Thiệt đính ngạc, đầu đính thiên, chưởng đính tiền” .
4. Tam khỏa tam mẫn: tam khỏa tức”Khí yếu khỏa, kiên yếu khỏa, lưỡng trửu yếu khỏa” . Tam mẫn tức”Tâm yếu mẫn, nhãn yếu mẫn, chưởng yếu mẫn” .
Cửu luận
“Cửu luận”Thị: luận thân, luận kiên, luận tí, luận chỉ, luận thủ trửu, luận cổ luận túc, luận cốc đạo, luận thối.
1. Luận thân: đầu chính thân trực, hư linh đính kính, dĩ yêu vi trục, khóa vi tiên phong.
2. Luận kiên: kiên nghi tùng, tùng tắc kiên huyệt khai, khí quán toàn thân.
3. Luận tí: tiền tí viên tắc nội kính thân xuất, tự khúc phi khúc, tự trực phi trực, khúc như cung hình kì lực vô cùng.
4. Luận chỉ: thực chỉ câu mi, trung chỉ thượng chỉ, vô danh, tiểu chỉ tịnh long, đại chỉ vi khấu.
5. Luận thủ trửu: tiền thủ hướng ngoại thôi, hậu thủ hướng hạ trụy, tiền trửu đối chuẩn cước cân, hậu trửu đối chuẩn hậu cước tiêm.
6. Luận cổ: tiền cổ lĩnh lộ, hậu cổ tọa kính.
7. Luận túc: lí túc trực xuất, ngoại túc vi khấu, túc khấu yếu tiểu, túc bãi yếu đại, túc như tranh nê, bình khởi bình tẩu.
8. Luận cốc đạo: cổ đạo thượng đề khí thông đốc mạch, tiếp chí nhâm mạch, khí như đan điền, thử sở vị đề giang thật phúc.
9. Luận thối: thượng thối đái động khóa bộ, tiểu thối hậu tất đái động hõa bộ.
Ca nhật: thập yếu cửu luận lí yếu minh, sinh hoa biến hóa diệu vô cùng.
Nhược năng ngộ xuất thử trung diệu, chu thân hồn viên nhâm ý hành.
Nguyên tắc kĩ kích
Dĩ chưởng vi pháp, dĩ tẩu vi dụng, dung thích đả suất (vật) nã vi nhất thể, tuân theo tương sinh vô hữu cùng tẫn. Tị chính tựu tà, thuận thế thuận kình, hư thật mạc trắc, thoát thân hóa ảnh. Nhu tắc miên lí tàng châm, triêm niêm tùy hóa; cương tắc lãnh đạn băng tạc, tấn như thiểm điện kinh lôi.
Người luyện công Bát quái bắt đầu từ hành bộ, nội công làm cơ bản, chính hình, thông khí, hiểu kình, thuần thục kĩ pháp, hiểu rõ biến hóa. Lấy bát đại chưởng làm mẫu chưởng, diễn hóa thành các phong cách thực dụng chưởng pháp và sáo lộ. Bát quái chưởng có nhiều chủng loại khí giới, nhưng nổi tiếng nhất là Bát quái đao.
Bát quái chưởng không chỉ là một trong ba môn nội nội gia quyền trứ danh, lưu truyền khắp các địa phương trong nước, mà còn được luyện tập rộng rãi ở nhiều quốc gia.
Trình thức tổng quyết
Bát quái chưởng, tẩu vi tiên,
thu tức phóng, khứ tức hoàn,
biến chuyển hư thật bộ trung tham.
Tẩu như phong, trạm như đinh,
khấu bãi chuyển hoán bộ pháp thanh.
Yêu vi đạo, khí vi kì, nhãn quan lục lộ thủ túc tiên.
Hành như long, tọa như hổ,
động tự giang hà tĩnh như sơn.
Âm dương thủ, thượng hạ phiên,
trầm kiên trụy trửu khí quy đan.
Bão lục hợp, vật tán loạn,
khí biến thân khu đắc tự nhiên.
Khấu bãi bộ, tử tế bàn, chuyển hoán tiến thối tại yêu gian.
Cước đả thất, thủ đả tam, thủ cước tề tiến mạc trì hoãn.
Khố đả tẩu, kiên đả chàng, ủy thân tễ kháo ám đính tất.
Cao bất ách, đê bất lan, nghênh phong tiếp tiến tối vi tiên.
Sổ ngữ diệu quyết chưởng trung yếu,
bất dụng thuần công diệc uổng nhiên.

Cầu Cơ Tiên


Kết quả hình ảnh cho cầu cơ tiên

Chắc hẳn là các bạn đã từng nghe qua về thuật cầu cơ và có thể có bạn đã được chơi rồi. Và chủ yếu phổ biến nhất mọi người thường chơi là cầu cơ ma chứ rất ít ai cầu được cơ tiên, vì cơ tiên chỉ dành cho những ai học đạo có căn cơ mới cầu được. Có 1 điểm lưu ý đặc biệt là khi các bạn cầu cơ tiên, các bạn có thể đeo bùa trừ tà gọi tiên lên được nhé... còn cầu cơ ma đeo bùa trừ tà thì tà ma thấy sợ sẽ không dám đến gần và không gọi lên được.
Vào những năm xa xưa, các cụ nhà ta thường cầu cơ tiên để đối thơ và xin mấy bài thuốc nam trị bệnh. Khi cơ lên có thể là thánh nhân này, có thể là thánh nhân khác. Nói chung là vị thánh nhân nào nhàn hạ thì vào chơi với người phàm trần. Ví dụ cơ lên và giới thiệu như sau:
Hàn vi từ thuở mới lên ba,
Mặc sức cho đời đối với ta.
Tử tế lòng người là dối trá,
Tình yêu thượng đế mới bao la.
-Qua bài thơ giới thiệu ta có thể đoán được vị thánh nhân nào về rồi ( Hàn Mặc Tử). Có rất nhiều cụ ngày xưa thuộc dạng xuất khẩu thành thơ nhưng khi cầu cơ tiên đối thơ với họ thì cũng phải 4-5 cụ ngồi lại vắt óc mãi mới nghĩ ra được một câu, đối xong là cơ chạy ra câu khác liền, phải nói là thần thánh có khác.
-May mắn thay tôi biết được vài quy tắc quan trọng trong cầu Cơ Tiên, xin ghi lại để những ai đam mê cầu cơ tìm thuốc cứu nhân hay đàm thơ đối ẩm với thánh nhân và cũng để lưu lại hậu thế.
Quy Tắc:
1- Con cơ phải làm từ gỗ "Mít", cây mít này phải là cây mít tinh khiết không dính máu, tức là không có người, chim hay động vật nào tha mồi, tha xác chết lên cây ăn hay làm gì để cây dính máu gây bẩn.
2- Câu thiệu:
Trên tiên hớn trời yên mây tạnh
Chín tầng trời cõi thánh làng tiên
Mênh mông vũ trụ vô biên
Tinh thần nhật nguyệt cao huyền cổ kim
Nay đệ tử một lòng thành kính
Nén chư hương cung thỉnh chư thần
Vái van chính khí giáng trần
Soi đường trần tục yên phần nhân gian.

Nga My Phái

Núi Nga Mi nằm ở phía Tây Nam- Trung Quốc, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Dãy Nga Mi vốn có đỉnh núi đối nhau như đôi lông mày nên được đặt tên là Nga Mi. Núi chính có đỉnh Vạn Phật, cao 3099 mét so với mực nước biển. Dãy Nga Mi thẳng đứng cheo leo,khe hẹp lũng sâu, tùng xanh bách biếc , thác nước tung bay, xưa nay vẫn ca tụng:”Nga Mi thiên hạ tú”. Thế kỷ thứ hai, đời Đông Hán, bắt đầu xây dựng chùa chiền. Cả Đạo giáo và Phật giáo đều có ở đây. Sư sãi và đạo sĩ khi tham thiền, tĩnh tọa, niệm kinh lạy Phật xong lại múa thương, múa gậy, luyện tập đấm đá, dần dà hình thành nên võ thuật Nga Mi nổi tiếng thiên hạ. Võ thuật Nga Mi thâu tóm sở trường của Phật giáo lẫn Đạo giáo, vừa hấp thụ động công của Đạo gia lại vừa có cả cơ sở tu thiền của Phật gia, sáng tạo riêng ra một phương pháp luyện công đầy đủ cả động lẫn tĩnh. Phương pháp này cùng các lọai quyền thuật, khí giớ cùng kỹ thuật tán đả tổ hợp thành võ thuật phái Nga Mi.

Ve dep nhu tranh o nui Nga Mi, Vo Dang hinh anh 11

Theo như ghi chép trong “Nga Mi quyền phổ” thời Thanh thì quyền thuật Nga Mi là :
“Nhất thụ khai ngũ hoa,
Ngũ hoa bát diệp phù,
Giao giao Nga Mi nguyệt,
Quang huy mãn giang hồ”.
“Ngũ mai” ở đây là chỉ 5 đại chi phái của Nga Mi :
1) Hoàng Lăng Phái, nguyên được truyền từ tỉnh Thiểm Tây vào.
2) Điểm dị phái, được mang tên từ Điểm Dị động thuộc Bồi Lăng,thịnh hành tại vùng phía đông Tứ Xuyên.
3) Thanh Thành phái: được mang tên từ thắng cảnh Thanh Thành, thịnh hành tại vùng phía đông Tứ Xuyên.
4) Thiết Phật phái (còn gọi là Vân Đỉnh phái), thịnh hành tại vùng phía bắc Tứ Xuyên.
5) Thanh Ngưu phái: lấy tên từ núi Thanh Ngưu, thuộc phía đông Tứ Xuyên.
“Bát diệp” là nói đến 8 loại quyền thuật của Nga Mi, hay còn gọi là “Nga Mi Bát Đại Môn”, đó là:
1) Tăng môn: theo truyền thuyết là được mang tên từ một nhà sư Thiếu Lâm, còn gọi là “Thâm môn”. Đặc điểm là: xảo, diệu, linh(hoạt), động.
2) Khưu môn: Do Nhạc Phi truyền, đặc điểm trang thấp, thủ pháp thường khoát thành đường tròn.
3) Triệu môn: Tương truyền do Tống thái tổ Triệu Khoang Âm truyền, mang phong cách và quyền pháp của Trường quyền Thiếu Lâm (cũng do Triệu Khoang Âm truyền), do chủ yếu luyện Hồng quyền nên còn được gọi là “Hồng môn”.
4) Đỗ môn: Theo truyền thuyết được lấy tên từ trận đồ “Đỗ môn” của Gia Cát Lượng, cho rằng quyền pháp truyền cho Đõ Quan Ấn -Tự Nhiên Môn, đặc điểm là phong tỏa cẩn mật, thiên về phòng thủ.
5) Hồng môn: Tương truyền được lấy tên từ niên hiệu Hồng Võ - Minh Thái Tổ. Chủ yếu luyện, Đại, Tiểu Hồng Quyền, chú trọng cương kình.
6) Hóa môn: Còn gọi là ‘Tàm bế môn”, bao gồm 36 tuyệt kỹ bế thủ như tằm nhả tơ, liên tục không ngừng, đòn đánh chủ yếu là khóa tay đối thủ, không cho đối thủ thi triển thủ pháp.
7) Tự môn: Còn gọi là “Trí môn”, do thu thức thường thành hình chữ “Chi” hoặc chữ “Nhất” nên được mang tên là Tự môn, đặc điểm là cao trang trường thủ.
8) Hội môn: Còn gọi là “Tuệ môn”, lấy Thần quyền làm đại biểu, chú trọng đến quan sư mạc tượng, niệm chú, bề ngoài trông rất thần bí.
Trừ thương pháp và quyền pháp Nga Mi trứ danh ra còn có Nga Mi Hỏa Long Quyền, Nga Mi kiềm quyền, Hồng khâu, Lục Trửu đến Ngũ giác quyền, Phả Tử quyền (phả tử là người đi khập khiễng), Áp hình quyền (quyền con vịt - tượng hình quyền) v.v…
Hệ quyền Nga Mi về bộ hình chủ yếu có hư bộ, trường sơn bộ (thác bộ), bộ pháp chủ yếu có xà hình bộ hay chi tự bộ, tiễn bộ (tiễn là cắt) tức hoàn khiêu bộ (nhảy đổi), thỏ tử bộ (bước thỏ) tức chân trước bước thống nhất, chân sau chồm lên một bước, chân trước lại lên trước một bước, tức là loại bộ pháp ba bước như trên liền nhau, thoa bộ (bước thoi đưa), lưỡng tính bộ (bước hai chân ngang nhau) v.v…
Thân pháp yêu cầu lên xuống như làn sóng, như rắn bò, dùng thôn, thổ, phù, trầm, đằng, thiểm, toản v.v… (tức nuốt, nhả, nổi, chìm, lăng, né, chọc v.v…) để biểu hiện đặc điểm “quyền rắn luyện nhu”.
Phép đánh thì có điểm, bàn, quan, đề (điểm, xoay, đóng, nâng) bốn loại. Đặc điểm là động tác nhỏ biến hóa lớn, lấy nhu khắc cương, mượn sức dùng sức. Khi công phòng thì lấy cánh tay lăn áp tới sau quyền, thuận thế trước công vào, mượn sức phản kích. Phép đánh trí mạng có phép điểm huyệt, phép bẻ xương…
Bát quái chưởng
Đổng Hải Xuyên-Người sáng lập ra Bát Quái ChưởngBát Quái Chưởng là một trong những loại quyền thuật sử dụng các chiêu thuật công, phòng và phương pháp dẫn đạo dung hợp với bộ pháp di chuyển theo đường tròn. Tên gọi cũ của Bát Quái Chưởng là “chuyển chưởng” (Chưởng xoay), ngoài ra Bát Quái Chưởng còn mang tên là “ Bát quái chuyển chưởng” (chưởng xoay bát quái), “Du thân bát quái chưởng” (Bát quái chưởng đưa mình), “Nhu thân Bát quái chưởng” (Bát quái chưởng mềm thân), “Âm dương Bát quái chưởng”(Bát quái chưởng âm dương), “Bát quái liên hoàn chưởng” (Chưởng liên hoàn bát quái). Trên thực tế, bộ pháp của Bát quái chưởng chú trọng đến ngang dọc khác nhau, nối liền tám phương vị trong Bát quái. Bát quái tán thủ chú trọng đến nguyên tắc “tùy cơ ứng biến”, gặp thời cơ thì đánh, hợp với Chu Dịch “cứng mềm mài nhau, bát quái vẫy động”, nghĩa là luôn vận động, biến hóa không ngừng, do đó mới gọi là Bát Quái Chưởng.
Về nguồn gốc của Bát Quái Chưởng thì cũng có nhiều truyền thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng do đạo nhân Bích Vân, Thanh Vân ở núi Nga Mi (Tứ Xuyên) truyền dạy. Cũng có thuyết cho rằng tiền thân của Bát Quái Chưởng là “Âm dương bát quái chưởng” từng được lưu truyền tại vùng Giang Nam. Có người lại suy đoán từ “Lam di ngoại sử-Tỉnh biên ký” có ghi : “Gia Ngưỡng làm vua từ 1796-1821, có người ở Tế Ninh tỉnh Sơn Đông là Vương Tương dạy Mã Khắc Thiện quyền pháp” mà quyền đó là tiền thân của Bát Quái Chưởng. Căn cứ theo các kết quả khảo chứng vào cuối thời nhà Thanh thì kết luận một cách chính xác là: Bát Quái Chưởng do Đổng Hải Xuyên, người thành Châu Gia - Văn Anh, tỉnh Hà Bắc (TQ) sáng lập ra. Hệ quyền của Đổng Hải Xuyên cực giống thuật đạo dẫn chạy theo đường tròn của Đạo giáo kết hợp với phương pháp công phòng trong võ thuật, đồng thời dùng Dịch lý để làm lý luận cơ bản, đó là “lấy động làm gốc, lấy biến làm phép”.
Năm 1866, sau khi Đổng Hải Xuyên lập ra Bát Quái Chưởng, ông liên tục truyền dạy tại Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc. Từ đó đến nay qua bao thế hệ, Bát Quái Chưởng không ngừng hoàn thiện và phát triển một cách nhanh chóng về lý luận kỹ thuật, phương pháp…
Đặc điểm vận động của Bát Quái Chưởng là thân nhanh bước linh, tùy bước tùy biến. Khi giao đấu thì nhô, cúi, vặn , xoay mau lẹ đa biến. Quyền phổ ghi là: “Hình như rồng lượn, nhìn như vượn dữ, ngồi như hổ phục, chuyển như ưng liệng”. Bát Quái Chưởng lấy trạm trang và bộ bước làm cơ bản công, lấy bước xoay chạy vòng tròn làm hình thức vận động cơ bản. Đường di chuyển của vết chân bước, xoay được chia ra theo hình cá Âm Dương, theo các phương vị Bát quái. Về thân pháp, yêu cầu vươn thân, cổ thẳng, đứng hông hạ mông, lỏng vai xuôi khuỷu, háng co, nâng bụng dưới…thân pháp coi trọng vặn, xoay , chuyển, lật tròn vòng, không ngắc ngứ, Bộ pháp đòi hỏi khi lên xuống phải vững vàng, khép mở rõ ràng, thực hư rành rọt. Khi bước vòng tròn, chân trong tiến thẳng, chân ngoài khép vào trong, hai gối hướng vào nhau, không mở hạ bộ. Về mặt thủ pháp, chủ yếu có đẩy, nâng, kéo, dẫn, dời, chặn, cắt, khép, bắt, tóm, móc , đánh, …yêu cầu là có thể tiến thoái, có thể hóa giải, kết hợp với hư thực mà biến hóa khôn cùng. Mục đích là dĩ tĩnh chế động, né thẳng đánh chéo khi giao đấu. Mỗi chưởng khi đánh ra đều phải dùng hông eo làm trục để xoay, toàn thân là một thể thống nhất, nội ngoại tương hợp, đó là ngoài thì chú trọng đến thủ, nhãn, thân và bộ pháp, trong thì luyện tâm, ý, khí, thần và lực.
Thường thì khi luyện Bát Quái Chưởng thì chia làm ba bước kung fu, đó là: định giá tử (luyện tập giá thức, tư thế), hoạt giá tử (vận dụng, kết hợp thủ pháp, bộ pháp, các tư thế lại với nhau) và biến hóa (tử).
Định giá tử là cơ bản, yêu cầu mỗi chiêu môi thức phải thật qui củ, quen chậm chứ không quen nhanh, cốt sao tư thế chính xác, bộ pháp kiên cố, bước đi vững vàng, thiết thực, đạt được chín yêu cầu ban đầu là:
- Tạ (xệ, xệ hông)
- Khấu (khép, khép ngực)
- Đế (nâng lên, nâng huyệt Vỹ lư, nâng trong Cốc đạo. Vỹ lư là huyệt nằm dưới thắt lưng, trên xương cùng, nơi tập trung nội lực. Cốc đạo là đường tiêu hóa kể từ hậu môn lên).
- Đỉnh (đẩy lên, hướng đầu lên)
- Khỏa (quấn tròn, cuộn tay)
- Tùng (thả lỏng, buông lỏng)
- Thùy (xuôi, xuôi khuỷu tay)
- Xúc (co, co khớp hang, bả vai)
- Khởi toản lạc phan, tuyệt đối không ưỡn ngực, phưỡn bụng
Hoạt giá tử chủ yếu luyện tập các động tác, phối hợp với các yếu lĩnh cơ bản kể trên trong khi di chuyển bộ pháp, biến hóa phương vị, cốt trở nên thành thạo, thuần thục.Các động tác khi di chuyển phải đạt yêu cầu nội ngoại thống nhất, ý dẫn thân tùy, biến đổi tự nhiên, sao để nhẹ như lông ngỗng, biến như chớp, vững như bàn thạch.
Nội dung cơ bản của Bát Quái Chưởng là Bát mẫu chưởng (tám chưởng mẹ), hay còn gọi là Lão bát chưởng, tuy vậy tùy từng nơi mà nội dung truyền dạy có sự khác biệt nhất định.Đó là lấy tám hình đại diện là Sư (sư tử), Lộc (hươu), Xà (rắn), Điêu (diều hâu), Long (rồng), Phụng (phượng), Hầu (khỉ), Hùng (gấu).Đồng thời dùng cả Song chàng chưởng (chưởng đâm bằng hai tay), Dao thân chưởng (chưởng lắc thân), Xuyên chưởng (chưởng xuyên), Khiêu chưởng (chưởng khều)….làm nội dung cơ bản của tám chưởng. Tuy vậy mỗi chưởng kể trên lại biến hóa ra nhiều chưởng pháp, theo kiểu cứ một chưởng lại sinh ra tám chưởng, tổng cộng 8x8 thành 64 chưởng.
Bát Quái Chưởng có đơn luyện , đối luyện và tán đả đấu lôi đài.Căn cứ theo quyền phổ cũ ghi lại thì hệ quyền của Bát Quái Chưởng thường có 18 đường La Hán thủ, 72 ám cước (đòn đá ngầm), 72 triệt thoái (chặt chân). Hệ thống binh khí của Bát Quái Chưởng gồm có : Tý ngọ uyên ương việt (búa uyên ương Tý Ngọ), Kê trảo âm dương nhuệ (vuốt chân gà âm dương), Phong hỏa luân (bánh xe gió lửa), Phán quan bút…là các loại song binh khí, ngắn và nhỏ, ngoài ra còn có các khí giới dài và nặng hơn là bát quái đao, bát quái thương, bát quái kiếm.
Hiện nay Bát Quái Chưởng chủ yếu được lưu truyền rộng rãi tại các tỉnh thành thuộc miền bắc Trung Quốc với hai hệ phái chính là Bát Quái Chưởng họ Trình (Trình thức Bát Quái Chưởng) và Bát Quái Chưởng họ Lương (Lương thức Bát Quái Chưởng).

Đừng tưởng...!!!


Hình ảnh có liên quan


Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.
Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần
Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng
Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.
Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.
Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần
Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu
Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.
– ☆☆☆☆☆ –
Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.
Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!